GÓC BỆNH NHÂN
BỆNH GLÔCÔM NHÃN ÁP BÌNH THƯỜNG (NORMAL TENSION GLAUCOMA)

(BS CKII. Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Phó Giám đốc, Trưởng khoa Glôcôm)

 

     Khi nói đến bệnh glôcôm gọi là bệnh hay trong dân gian thường gọi là bệnh thiên đầu thống là 1 bệnh rất nguy hiểm vì nó làm giảm và mất thị lực của người bệnh vĩnh viễn, không có khả năng hồi phục.do vậy, đối với những hình thái glôcôm mà có triệu chứng đau nhức mắt, nhức đầu thì người ta thường nghĩ đến bệnh glôcôm. Tuy nhiên, không phải hình thái glôcôm nào cũng có triệu chứng này, mà triệu chứng chủ yếu là nhìn mờ như glôcôm góc đóng mãn tính, glôcôm góc mở… khi khám  mắt các bác sỹ thường thấy nhãn áp (NA) cao là triệu chứng rất thường gặp ở bệnh nhân glôcôm nói chung.

     Glôcôm NA bình thường là 1 hình thái đặc biệt của glôcôm góc mở, triệu chứng rất ít, không có đau nhức mắt, đau nhức đầu, nhãn áp không cao, triệu chứng cơ năng duy nhất là nhìn mờ, do vậy, chúng ta thường ít nghĩ đến bệnh glôcôm. Do vậy việc chẩn đoán bệnh glôcôm nhãn áp bình thường rất khó khăn và được chẩn đoán muộn.

     Glôcôm nhãn áp bình thường được mô tả lần đầu tiên bởi Albrecht Von Graefe vào năm 1857, là một hình thái glôcôm góc mở nguyên phát trong đó không có nhãn áp cao.

     Theo quan điểm hiện nay thì glôcôm nhãn áp bình thường không chỉ đơn thuần là bệnh lý của thị thần kinh  mãn tính mà nó còn kết hợp sự bất thường của đĩa thị, dẫn đến thay đổi thị trường mà nhãn áp vẫn trong giới hạn bình thường. Như vậy sự khác nhau giữa glôcôm góc mở nguyên phát và glôcôm nhãn áp bình thường là nhãn áp cao mà thôi.

     Bệnh glôcôm nhãn áp bình thường là bệnh của người già, đa số các bệnh nhân trên 50 tuổi, gặp ở nữ nhiều hơn nam.

     Tỉ lệ glôcôm nhãn áp bình thường rất khác nhau tùy thuộc vào từng tác giả.

     Theo nghiên cứu ở Anh thì glôcôm nhãn áp bình thường chiếm 1/3 số bệnh nhân glôcôm góc mở.

     Nghiên cứu mới đây thực hiện ở miền bắc Italia  thì tỉ lệ glôcôm góc mở nguyên phát ở những người sau 40 tuổi là 1,4%, trong đó 0,6% là glôcôm nhãn áp bình thường, tức là chiếm 30%.

     Trong bệnh glôcôm nhãn áp bình thường có nhiều yếu tố nguy cơ trong đó yếu tố được đề cập nhiều nhất là yếu tố mạch máu như cao huyết áp, bệnh đái tháo đường, huyết áp thấp vào ban đêm, những hội chứng gây co thắt mạch hội chứng migraine, hội chứng Raynaud…, gần đây có hội chứng hạ huyết áp khi ngủ.

     Chủng tộc: glôcôm nhãn áp bình thường gặp nhiều ở các nước châu Á, trong khi đó thì người da đen gặp glôcôm nhãn áp cao nhiều hơn, và Nhật Bản tỉ lệ bệnh glôcôm nhãn áp bình thường nhiều hơn các nước khác.

     Cũng như glôcôm nhãn áp cao, glôcôm nhãn áp bình thường là 1 bệnh diễn biến không triệu chứng, trừ những trường hợp tổn hại thị trường muộn, tổn hại thị trường nhiều. Hoàn cảnh phát hiện: rất ngẫu nhiên khi khám mắt hàng ngày hoặc khám sức khỏe định kỳ thấy lõm teo gai thị rộng trong khi đó nhãn áp trong giới hạn bình thường, khi đó cho làm các khám nghiệm khác thì thấy tổn hại của bệnh glôcôm.

      * Sự thay đổi nhãn áp

     - Khi theo dõi bệnh nhân glôcôm nhãn áp bình thường thì thấy sự dao động nhãn áp mà đỉnh dưới 21mmHg

     - Người ta nhấn mạnh đến nhãn áp đích: là ngưỡng mà khi khi vượt quá ngưỡng này sẽ gây ra tổn hại thị thần kinh và tổn hại chức năng thị giác như thị lực và thị trường.

     - Cần phải lập biểu đồ theo dõi sự thay đổi nhãn áp trong ngày để khẳng định cho sự chẩn đoán xác định glôcôm nhãn áp bình thường. Tuy nhiên, trong thực tế việc này rất khó thực hiện.

     - Hiện nay có thể theo dõi nhãn áp theo những giờ nhất định bằng cách sử dụng nhãn áp kế bút điện tử để theo dõi nhãn áp.

     * Gai thị

     - Tổn hại gai thị không có sự khác biệt với các loại glôcôm khác như tỉ lệ C/D lớn, tổn hại lớp viền thần kinh đĩa thị giác, thay đổi mạch máu của đĩa thị giác …

     Tuy nhiên, trong glôcôm nhãn áp bình thường tổn hại gai thị cũng có 1 số đặc điểm riêng:

     - Lớp viền thần kinh quanh gai thị mỏng hơn so với glôcôm nhãn áp cao.

     - Lõm gai không quá sâu và lớp lá sàng ít bị đấy ra phía sau hơn.

     - Hay gặp tổn hại viền thần kinh gai thị khu trú ở 1 vị trí kèm theo lõm gai thị sâu và thay đổi lớp lá sàng tạo thành hố gai thị mắc phải, 75% gặp ở glôcôm nhãn áp bình thường so với 15% ở glôcôm nhãn áp cao.

     

Tổn hại gai thị

 

     * Các triệu chứng khác đi kèm

     - Một trong những dấu hiệu thường gặp nhất trong glôcôm nhãn áp bình thường  là teo võng mạc cạnh gai thị ( vùng α và vùng β), tuy nhiên dấu hiệu này không đặc hiệu cho glôcôm nhãn áp không cao .

     - Xuất huyết gai thị: rất hay gặp trong glôcôm nhãn áp bình thường.

     - Tổn hại lớp sợi thần kinh quanh gai thị: hay gặp tổn hại lớp sợi thần kinh khu trú ở 1 vị trí nào đó hơn là tổn hại toàn bộ chu vi gai thị.

     Tuy nhiên,  những dấu hiệu trên không đặc hiệu cho glôcôm nhãn áp bình thường , không cho phép chẩn đoán xác định mà chỉ có giá trị gợi ý glôcôm nhãn áp bình thường  mà thôi.

     * Tổn hại chức năng

     - Tổn hại thị trường: tổn hại thị trường khu trú, khi thì gặp tổn hại thị trường hình cung ½ trên, khi thì gặp ở ½  dưới, cung có khi cả trên và dưới.

     * Chiều dày giác mạc

     - Chiều dày giác mạc trung tâm hiện nay như là 1 yếu tố để đánh giá nhãn áp. Trong glôcôm nhãn áp bình thường chiều dày giác mạc trung tâm mỏng hơn bình thường, do đó nhãn áp thường bị đánh giá thấp hơn so với nhãn áp thực tế.Nghi ngờ glocom nhãn áp bình thường thì cần phải cho bệnh nhân đo độ dày giác mạc trung tâm.

     * Làm các xét nghiệm tim mạch

Mục đích để tìm các yếu tố nguy cơ, trên thực tế người ta khuyên nên theo dõi huyết áp 24h, làm siêu âm mạch máu vùng cổ nếu như hỏi bệnh thấy có rối loạn.

     * Chẩn đoán hình ảnh não

Chụp scanner hoặc chụp cộng hưởng từ nếu không có sự tương xứng giữa tổn hại thị lực, thị trường và gai thị.

     * Tiến triển và tiên lượng

     Tiến triển cũng như glôcôm nhãn áp cao. Nếu không được điều trị bệnh ngày càng tiến triển nặng lên, biểu hiện thị lực ngày càng giảm, thị trường ngày càng thu hẹp cuối cùng dẫn đến mù lòa không thể hồi phục được.

     Hình thái thiếu máu tiến triển nhanh hơn.

    Tiên lượng kém nếu như có kèm với tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc.

     * Điều trị

     - Đạt được nhãn áp đích: điều trị hạ nhãn áp đến khi bệnh không tiến triển nặng hơn, mức độ hạ nhãn áp khác nhau tùy thừng bệnh nhân. Tuy nhiên, mức độ hạ nhãn áp tối thiểu là 30% áp nhãn áp của bệnh nhân.

     - Xác định những yếu tố nguy cơ mắc phải và kiểm soát chúng:

          + Phát hiện cao huyết áp và điều trị cao huyết áp, không dùng thuốc co mạch.

          + Phát hiện huyết áp thấp.

     - Thường xuyên theo dõi sự tiến triển của bệnh.

---o0o---


Các thông tin khác

Địa chỉ
68 Phan Đăng Lưu,P. Hòa Cường Bắc,
Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Điện thoại
0236.3624283
E.mail
benhvienmat@danang.gov.vn
© Bản quyền thuộc Bệnh viện Mắt Đà Nẵng